P hím tắt là tổ hợp các thao tác gõ phím và nhấp chuột mà bạn có thể sử dụng để thực hiện các tác vụ như chụp ảnh màn hình hoặc mở cửa sổ m...
Vé máy bay tết 2016 chặng TP Hồ Chí Minh – Hà Nội luôn ở mức giá gần 3 triệu đồng, nhưng sẽ có một cách về được tới Hà Nội chỉ tốn 1,7 triệ...
Mua hóa đơn GTGT đầu vào để "độn" chi phí và trốn nộp thuế GTGT là việc làm mà bất kỳ "kế toán già" nào cũng coi l...
Khái quát chung về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghia duy tâm trong triết học Triết học hiểu theo nghĩa chung ...
Bài Đăng
09:53
Phím tắt Chromebook
Phím tắt là tổ hợp các thao tác gõ phím và nhấp chuột mà bạn có thể sử dụng để thực hiện các tác vụ như chụp ảnh màn hình hoặc mở cửa sổ mới.
Xem bảng bên dưới để biết danh sách các phím tắt. Nếu bạn đang dùng bàn phím Windows hoặc Mac, hãy sử dụng phím Windows hoặc phím Command (Mac) thay cho phím Search, trừ khi có lưu ý khác.
Mẹo: Nhấn Ctrl + Alt + ? để xem bản đồ của các phím tắt này trên màn hình của bạn.
Tab và cửa sổ
| Mở cửa sổ mới | Ctrl + N |
| Mở cửa sổ mới ở chế độ ẩn danh | Ctrl + Shift + N |
| Mở tab mới | Ctrl + T |
| Mở tệp trong trình duyệt | Ctrl + O |
| Đăng xuất khỏi Tài khoản Google của bạn trên Chrome OS | Ctrl + Shift + Q (hai lần) |
| Đóng tab hiện tại | Ctrl + W |
| Đóng cửa sổ hiện tại | Ctrl + Shift + W |
| Mở lại tab cuối mà bạn đã đóng. Chrome nhớ 10 tab cuối mà bạn đã đóng. | Ctrl + Shift + T |
| Chuyển đến tab ở vị trí đã chỉ định trong cửa sổ | Ctrl + 1 cho tới Ctrl + 8 |
| Chuyển đến tab cuối cùng trong cửa sổ | Ctrl + 9 |
| Tự kích hoạt các mục từ 1 đến 8 | Alt + 1 cho tới Alt + 8 |
| Sử dụng các phím F (F1 tới F12) | Search + 1 cho tới Search + = |
| Tự mở mục cuối | Alt + 9 |
| Chuyển đến tab tiếp theo trong cửa sổ | Ctrl + Tab |
| Chuyển đến tab trước trong cửa sổ | Ctrl + Shift + Tab |
| Chuyển tới cửa sổ trước mà bạn đã mở | Alt + Tab |
| Chuyển đến cửa sổ đang mở tiếp theo | Alt + Shift + Tab |
| Chuyển tới trang trước trong lịch sử duyệt web của bạn | Alt + mũi tên trái |
| Đi tới trang tiếp theo trong lịch sử duyệt web của bạn | Alt + mũi tên phải |
| Mở liên kết trong tab mới trong nền | Nhấn Ctrl và nhấp vào một liên kết |
| Mở liên kết trong tab mới và chuyển sang tab mới | Nhấn Ctrl + Shift và nhấp vào một liên kết |
| Mở liên kết trong cửa sổ mới | Nhấn Shift và nhấp vào một liên kết |
| Mở liên kết trong tab | Kéo liên kết vào thanh địa chỉ của tab |
| Mở liên kết trong tab mới | Kéo liên kết vào khu vực trống trên dải tab |
| Mở trang web trong tab mới | Nhập địa chỉ web (URL) vào thanh địa chỉ, sau đó nhấn Alt + Enter |
| Đưa tab về vị trí ban đầu | Trong khi kéo tab, nhấn Esc |
| Gắn một cửa sổ ở bên trái | Alt + [ |
| Gắn một cửa sổ ở bên phải | Alt + ] |
| Khóa màn hình của bạn | Search + L |
Phím tắt cho trang
| Trang trên | Alt hoặc Search và mũi tên lên |
| Trang dưới | Alt hoặc Search và mũi tên xuống |
| Cuộn xuống dưới trang web | Dấu cách |
| Chuyển tới đầu trang | Ctrl + Alt và mũi tên lên |
| Chuyển tới cuối trang | Ctrl + Alt và mũi tên xuống |
| In trang hiện tại của bạn | Ctrl + P |
| Lưu trang hiện tại của bạn | Ctrl + S |
| Tải lại trang hiện tại của bạn | Ctrl + R |
| Tải lại trang hiện tại mà không sử dụng nội dung đã lưu vào bộ nhớ cache | Ctrl + Shift + R |
| Phóng to trang | Ctrl và + |
| Thu nhỏ trang | Ctrl và - |
| Đặt lại mức thu phóng | Ctrl + 0 |
| Dừng tải trang hiện tại của bạn | Esc |
| Nhấp chuột phải vào một liên kết | Nhấn Alt và nhấp vào một liên kết |
| Mở liên kết trong tab mới trong nền | Nhấn Ctrl và nhấp vào một liên kết |
| Lưu trang hiện tại của bạn làm dấu trang | Ctrl + D |
| Lưu tất cả các trang đang mở trong cửa sổ hiện tại của bạn làm dấu trang trong một thư mục mới | Ctrl + Shift + D |
| Lưu liên kết làm dấu trang | Kéo một liên kết vào thanh dấu trang |
| Mở thanh tìm kiếm để tìm kiếm trang hiện tại của bạn | Ctrl + F |
| Chuyển đến kết quả phù hợp tiếp theo để nhập vào thanh tìm kiếm | Ctrl + G hoặc Enter |
| Chuyển đến kết quả phù hợp trước để nhập vào thanh tìm kiếm | Ctrl + Shift + G hoặc Shift + Enter |
| Thực hiện tìm kiếm | Ctrl + K hoặc Ctrl + E, sau đó nhập cụm từ tìm kiếm sau gợi ý tìm kiếm vào thanh địa chỉ và nhấn Enter. |
| Thêm www. và .com vào mục nhập của bạn trên thanh địa chỉ rồi mở địa chỉ web kết quả | Ctrl + Enter |
Chụp ảnh màn hình của trang hiện tại
|
Ctrl +
Dành cho bàn phím không dùng Chrome OS:
Ctrl + F5 |
Chụp một phần màn hình
|
Ctrl + Shift +
Dành cho bàn phím không dùng Chrome OS:
Ctrl + Shift + F5 |
| Xem nguồn trang | Ctrl + U |
| Hiển thị hoặc ẩn bảng Công cụ dành cho nhà phát triển | Ctrl + Shift + I |
| Hiển thị hoặc ẩn Trình kiểm tra DOM | Ctrl + Shift + J |
Cài đặt trình duyệt
| Hiển thị hoặc ẩn thanh dấu trang. Nếu thanh bị ẩn, bạn có thể thấy dấu trang của mình trong menu Chrome. | Ctrl + Shift + B |
| Mở ứng dụng Tệp | Alt + Shift + M |
| Hiển thị các tệp bị ẩn trong ứng dụng Tệp | Ctrl + . |
| Mở trang Lịch sử | Ctrl + H |
| Mở trang Tải xuống | Ctrl + J |
| Mở Trình quản lý tác vụ | Search + Esc |
| Mở hoặc ẩn danh sách các phím tắt khả dụng | Ctrl + Alt + / |
| Nhận trợ giúp với Chromebook của bạn | Ctrl + ? |
| Định cấu hình hiển thị màn hình | Ctrl + |
| Mở khu vực trạng thái ở góc dưới cùng bên phải màn hình | Shift + Alt + S |
| Tự đánh dấu nút trình khởi chạy | Shift + Alt + L |
| Tự đánh dấu mục tiếp theo | Shift + Alt + L, sau đó Tab hoặc mũi tên phải |
| Tự đánh dấu mục trước | Shift + Alt + L, sau đó Shift + Tabhoặc mũi tên trái |
| Tự mở nút được đánh dấu | Shift + Alt + L, sau đó Space hoặcEnter |
| Tự xóa nút được đánh dấu | Shift + Alt + L, sau đó Esc |
Chuyển tiêu điểm tới ngăn tiếp theo có thể truy cập bằng bàn phím. Các ngăn bao gồm:
| Ctrl + |
| Đánh dấu thanh dấu trang (nếu hiển thị) | Alt + Shift + B |
| Đánh dấu hàng bằng thanh địa chỉ | Shift + Alt + T |
| Mở menu Chrome trên thanh công cụ của trình duyệt | Alt + E hoặc Alt + F |
| Mở menu nhấp chuột phải cho các mục được đánh dấu | Shift + Search + Tăng âm lượng |
| Bật hoặc tắt ChromeVox (phản hồi bằng giọng nói) | Ctrl + Alt + Z |
| Thay đổi độ phân giải màn hình | Ctrl + Shift và + hoặc - |
| Đặt độ phân giải màn hình về mặc định | Ctrl + Shift và 0 |
| Xoay màn hình 90 độ | Ctrl + Shift và Tải lại |
Chỉnh sửa văn bản
| Bật hoặc tắt Caps Lock | Alt + Search |
| Chọn mọi nội dung trên trang | Ctrl + A |
| Chọn nội dung trong thanh địa chỉ | Ctrl + L hoặc Alt + D |
| Chọn từ hoặc chữ cái tiếp theo | Ctrl + Shift và mũi tên phải |
| Chọn văn bản ở cuối dòng | Shift + Search và mũi tên phải |
| Chọn văn bản ở đầu dòng | Shift + Search và mũi tên trái |
| Chọn từ hoặc chữ cái trước | Ctrl + Shift và mũi tên trái |
| Di chuyển đến cuối từ tiếp theo | Ctrl và mũi tên phải |
| Di chuyển tới đầu từ trước | Ctrl và mũi tên trái |
| Trang trên | Alt hoặc Search và mũi tên lên |
| Trang dưới | Alt hoặc Search và mũi tên xuống |
| Chuyển tới đầu trang | Ctrl + Alt và mũi tên lên |
| Chuyển tới cuối trang | Ctrl + Alt và mũi tên xuống |
| Chuyển tới cuối tài liệu | Ctrl + Search và mũi tên phải |
| Chuyển tới đầu tài liệu | Ctrl + Search và mũi tên trái |
| Sao chép nội dung đã chọn vào khay nhớ tạm | Ctrl + C |
| Dán nội dung từ khay nhớ tạm | Ctrl + V |
| Dán nội dung từ khay nhớ tạm dưới dạng văn bản thuần túy | Ctrl + Shift + V |
| Cắt | Ctrl + X |
| Xóa từ trước | Ctrl + Backspace |
| Xóa chữ cái tiếp theo (xóa tiến) | Alt + Backspace |
| Hoàn tác tác vụ cuối của bạn | Ctrl + Z |
| Làm lại tác vụ cuối của bạn | Ctrl + Shift + Z |
| Chuyển đổi giữa các ngôn ngữ bàn phím bạn đã đặt | Ctrl + Shift + Space |
| Chuyển sang ngôn ngữ bàn phím bạn đã sử dụng trước đó | Ctrl + Space |
| Làm mờ bàn phím (chỉ dành cho bàn phím có đèn nền) | Alt + |
| Làm cho bàn phím sáng hơn (chỉ dành cho bàn phím có đèn nền) | Alt + |
02:10
Cách về Hà Nội ăn tết 2016 chỉ với giá 1,7 triệu đồng
Vé máy bay tết 2016 chặng TP Hồ Chí Minh – Hà Nội luôn ở mức giá gần 3 triệu đồng, nhưng sẽ có một cách về được tới Hà Nội chỉ tốn 1,7 triệu đồng (thậm chí là 1,2 triệu, vé NokAir + AirAsia). Tất nhiên, mệt hơn xíu nhưng đổi lại rất vui.
Đây là năm thứ ba Bụi bày cách bay vòng sang Thái Lan để về Hà Nội ăn tết. Hai năm trước, nhiều nhóm bạn đã có những trải nghiệm rất thú vị tại thành phố Bangkok. Vừa được đi chơi, vừa tiết kiệm được tiền, mạnh dạn lên và bạn sẽ thấy cuộc sống khá thú vị.
Tham khảo cách bay này của năm trước: Về quê ăn tết 2015 qua ngả Bangkok
Cách bay năm nay bằng hãng AirAsia như sau nhé:
- TP HCM tới Bangkok: giá vé 50 USD
Bangkok về Hà Nội: giá vé 27 USD
Bụi ví dụ lộ trình luôn nhé:
- TP HCM tới Bangkok vào 21h30 tối 4-2-2016, tức 26 tết là nghỉ việc rồi nhé.
Bangkok về Hà Nội vào sáng 5-2 hoặc ở lại chơi Bangkok cả ngày 5-2, rồi đến sáng 6-2 mới về
Chặng đi tốn 50 USD, chặng về tốn 990 THB (27 USD). Tổng sẽ tốn: 77 USD tiền vé khứ hồi.

Nhóm bạn bay sang Thái Lan để về Hà Nội ăn tết 2013, tranh thủ đi thuyền ngắm cảnh thành phố Bangkok

Từ Bangkok bay về Hà Nội giá 990 bạt (27 USD)
Tiền ăn chơi ở Bangkok như nhóm bạn bay năm 2013 vào thăm chùa Vàng, hoàng Cung, đi thuyền sông ngắm cảnh, vào tổng hành dinh khu biểu tình tham quan (vì năm đó phe áo đỏ biểu tình), hết có 700.000 đồng.
Năm ấy, nhóm bạn mua được vé giá rẻ chỉ 1,2 triệu đồng, thêm 700.000 ăn chơi Bangkok, tổng hết 1,9 triệu, vẫn rẻ hơn mức 2,8 – 3 triệu đồng bay thẳng trong nước.
Còn nếu bạn chỉ ngồi chờ ở sân bay Bangkok thì tốn vài chục bạt tiền ăn tối, ăn sáng mà thôi. Tuy nhiên, nên tranh thủ vào thăm Bangkok sẽ vui hơn.
Đọc lại bài của các bạn ấy: 28 tết rủ nhau sang Bangkok xem biểu tình, về Hà Nội ăn tết

Nhóm bạn bay sang Thái Lan để về Hà Nội trước tết 2013, tranh thủ đi thăm thành phố Bangkok.
Tất nhiên, Bụi không đề cao lắm chuyện tiết kiệm, mà muốn nói với bà con rằng: tự nhiên số tiền bỏ ra không cao, lại tranh thủ bay sang Bangkok ngó nghiêng, thậm chí đi lại shopping mua quà tết cho gia đình… khá là hay!
Và kể cả khi số tiền bỏ ra bằng số tiền bay thẳng trong nước thì Bụi vẫn bay vòng qua Bangkok, vì thích đi vào siêu thị Siam mua ít quà tết cho gia đình, đặc biệt có món ổi Thái thơm ngon dã man luôn! Rồi tranh thủ vô MBK, Siam Paragon, Central World… xem có quần áo siêu giảm giá không, mua mặc diện tết.
Cách bay này chỉ dành cho các bạn có cá tính, ham khám phá, đã có hộ chiếu, nói được chút tiếng Anh. Nếu còn ngại, các bạn có thể lập nhóm đi chung rất vui. Các bạn khác, vui lòng bay thẳng cho đỡ mệt!
Theo như Bụi biết, nhóm bay Bangkok năm 2013 về sau thích quá, toàn về ăn tết qua ngả Bangkok và Kuala Lumpur, chứ không bay thẳng nữa.
Bạn có thể mày mò tìm thêm đường bay TP HCM – Bangkok – Hà Nội của các hãng NokAir, Jetstar và VietJetAir nhé. Nếu kết hợp khéo sẽ bay rất thuận tiện và giá rẻ.
Ví dụ bên NokAir, ngày 3-2 bay từ TP HCM sang Bangkok hết 990 bạt (27 USD), kết hợp vé về Hà Nội của AirAsia cũng chỉ 27 USD, tổng hết 54 USD (1,2 triệu đồng).
Bạn còn tìm ra được cách kết hợp bay nào giá rẻ hơn, hãy mách cho bà con BayNhé nhé!
Sau tết, bay vào TP HCM qua Bangkok và Kuala Lumpur
Ra tết, mọi người từ ngoài Bắc lại lũ lượt kéo vào trong nam. Giá vé như đợt tết 2015 cũng là 3 triệu đồng, nhiều ngày còn cháy vé. Vậy tại sao bạn lại không bay sang Bangkok hay Kuala để vào TP HCM nhỉ?
Bụi gợi ý bạn nên bay sang Kuala Lumpur hay Bangkok chơi 1-2 ngày rồi mới tới TP HCM. Đằng nào cũng mất 3 triệu (nếu qua Kuala) mà lại được du xuân ở nước ngoài.
Chọn cách nào là do bạn quyết định. Bụi chỉ mong muốn giới thiệu tới cả nhà những cách bay thay thế mà thôi!
11:37

Mua hóa đơn GTGT và "cái chết" không báo trước!
Mua hóa đơn GTGT đầu vào để "độn" chi phí và trốn nộp thuế GTGT là việc làm mà bất kỳ "kế toán già" nào cũng coi là "hạ sách" vì nó tiềm ẩn quá nhiều rủi ro cho doanh nghiệp, thậm chí dẫn tới hệ lụy "đau đớn" cho chủ doanh nghiệp và người làm kế toán. Thật là lợi bất cập hại, chúng ta cùng nhìn nhận vấn đề này một cách nghiêm túc và sau đó, có làm hay không thì tùy bạn nhé! XEM CHI TIẾT
Mua hóa đơn để làm gì và che đậy điều gì?
Nhiều doanh nghiệp hiện nay chọn cách mua hóa đơn để nghĩ rằng sẽ "hóa giải" theo cách bù trừ và cân đối giữa thuế đầu vào, đầu ra, hạn chế số thuế GTGT phải nộp, đồng thời người/doanh nghiệp mua hóa đơn cũng tin rằng làm như vậy để có "hóa đơn chứng từ" ghi nhận chi phí tính thuế, giảm thuế TNDN phải nộp trong năm. Đặc biệt các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, hoạt động trong các lĩnh vực: xây lắp, thi công, vận tải, thậm chí là thương mại... mà đầu ra thì có còn đầu vào thì lúc có lúc "không" sẽ thường chọn cách mua hóa đơn. Nghĩa là, ở đây có những dấu hiệu sau:
Nhiều doanh nghiệp hiện nay chọn cách mua hóa đơn để nghĩ rằng sẽ "hóa giải" theo cách bù trừ và cân đối giữa thuế đầu vào, đầu ra, hạn chế số thuế GTGT phải nộp, đồng thời người/doanh nghiệp mua hóa đơn cũng tin rằng làm như vậy để có "hóa đơn chứng từ" ghi nhận chi phí tính thuế, giảm thuế TNDN phải nộp trong năm. Đặc biệt các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, hoạt động trong các lĩnh vực: xây lắp, thi công, vận tải, thậm chí là thương mại... mà đầu ra thì có còn đầu vào thì lúc có lúc "không" sẽ thường chọn cách mua hóa đơn. Nghĩa là, ở đây có những dấu hiệu sau:
- Có hoạt động xuất khống hóa đơn, dẫn tới mất cân đối hàng tồn kho hoặc giá trị nghiệm thu cao hơn nhiều so với đầu vào, vì thế doanh nghiệp lo lại nộp thuế.
- Hoạt động mua vào không minh bạch, không hóa đơn mà đầu ra thì vẫn phải xuất hóa đơn đầy đủ
- Khi mua hàng hóa, vật tư, làm theo cảm tính, manh mún, chi trả bằng tiền mặt và mua không hóa đơn (hoặc mua của cá nhân, mua ngoài chợ...) trong khi mà đầu ra vẫn phải xuất đủ hóa đơn cho khách hàng
- Các trường hợp khác...
Mua hóa đơn theo cách "lạy ông tôi ở bụi này..."
Với các lý do đã nêu trên, nhiều cá nhân làm dịch vụ kê khai báo cáo thuế và doanh nghiệp có vẻ "đồng thuận" trong việc chọn phương án mua hóa đơn để trốn và tránh thuế. Nhưng liệu có dễ như vậy? Thậm chí mua theo cách "chẳng cần suy nghĩ" và "lộ hàng" ngay từ khi giao dịch, cụ thể như:
Với các lý do đã nêu trên, nhiều cá nhân làm dịch vụ kê khai báo cáo thuế và doanh nghiệp có vẻ "đồng thuận" trong việc chọn phương án mua hóa đơn để trốn và tránh thuế. Nhưng liệu có dễ như vậy? Thậm chí mua theo cách "chẳng cần suy nghĩ" và "lộ hàng" ngay từ khi giao dịch, cụ thể như:
- Doanh nghiệp chẳng có hoạt động vận tải, không có cơ chế giao xăng... nhưng lại luôn có hóa đơn xăng dầu, thậm chí có hóa đơn xăng dầu với số lượng lớn.
- Doanh nghiệp không cần hoặc không lý giải được việc sử dụng dịch vụ vận tải nhưng tháng nào cũng có hóa đơn vận tải
- Doanh nghiệp thi công xây lắp công trình, trong dự toán/quyết toán không cần dùng đến vật tư A nào đó nhưng lại có hóa đơn vật tư A. Điều này giống như mua khoai về mà lại muốn nấu thành xôi.
- Có hóa đơn đầu vào nhưng chỉ ghi chung chung và chỉ có hóa đơn, không thể giải trình/cung cấp các hồ sơ chứng minh tính có thật của giao dịch
- Xuất hiện nhiều hóa đơn đầu vào mà giá trị cứ gần 20 triệu, nội dung "na ná" như nhau
- V..v..., như vậy có phải là "lạy ông tôi ở bụi này"
Mua hóa đơn đầu vào để độn thuế theo cách "đánh bùn sang ao"
Nhiều giám đốc doanh nghiệp, thiếu quan tâm tới công tác kê khai báo cáo thuế và kế toán thuế, mặc cho kế toán làm sao thì làm, nói gì nghe đó thậm chí còn yêu cầu nhân viên "phải mua hóa đơn" để nộp thuế ít. Thế nhưng thực tế phải trả nhiều hơn. Phải chăng đó là giá phí cho cái sự "bất cẩn" và "điếc không sợ súng"? Ta hãy phân tích thế này:
Trường hợp 1: Mua hóa đơn với giá từ 5-10% của giá trị giao dịch. Điều này dẫn tới gần như "hòa" về thuế GTGT (giả định thuế VAT đầu ra 5-10%). Còn nếu mua với giá trên 10% thì coi như "lỗ" thuế GTGT so với việc nộp thuế. Tuy nhiên doanh nghiệp mua bán hóa đơn kỳ vọng có thể đẩy vào chi phí toàn bộ giá trị hóa đơn và sẽ giữ lại được từ 20-22% giá trị của giá trị hóa đơn do việc ghi nhận chi phí tính thuế TNDN từ hóa đơn đi mua đó. Thế nhưng kế toán và giám đốc doanh nghiệp khi làm như vậy liệu có chắc chắn giải thích được các câu hỏi sau đây:
Trường hợp 2: Có những doanh nghiệp chấp nhận giá mua hóa đơn lên đến 20% hoặc cao hơn. Trường hợp này khẳng định luôn rằng "tại sao không nộp thuế cho lành mà phải cố tính làm giả"? Vì nếu nộp thuế, doanh nghiệp sẽ an toàn hơn, tội gì phải đưa số tiền tương đương với tiền nộp thuế để mua lại rủi ro từ doanh nghiệp bán khống hóa đơn, và mang gánh nặng trên vai?
Nhiều giám đốc doanh nghiệp, thiếu quan tâm tới công tác kê khai báo cáo thuế và kế toán thuế, mặc cho kế toán làm sao thì làm, nói gì nghe đó thậm chí còn yêu cầu nhân viên "phải mua hóa đơn" để nộp thuế ít. Thế nhưng thực tế phải trả nhiều hơn. Phải chăng đó là giá phí cho cái sự "bất cẩn" và "điếc không sợ súng"? Ta hãy phân tích thế này:
Trường hợp 1: Mua hóa đơn với giá từ 5-10% của giá trị giao dịch. Điều này dẫn tới gần như "hòa" về thuế GTGT (giả định thuế VAT đầu ra 5-10%). Còn nếu mua với giá trên 10% thì coi như "lỗ" thuế GTGT so với việc nộp thuế. Tuy nhiên doanh nghiệp mua bán hóa đơn kỳ vọng có thể đẩy vào chi phí toàn bộ giá trị hóa đơn và sẽ giữ lại được từ 20-22% giá trị của giá trị hóa đơn do việc ghi nhận chi phí tính thuế TNDN từ hóa đơn đi mua đó. Thế nhưng kế toán và giám đốc doanh nghiệp khi làm như vậy liệu có chắc chắn giải thích được các câu hỏi sau đây:
- Hàng hóa/vật tư/dịch vụ đầu vào với đầu ra có "phù hợp" cả về tên, mã, chủng loại, số lượng?
- Hồ sơ giao dịch mua bán hàng hóa/vật tư/dịch vụ có chứng minh được tính có thực?
- Báo cáo thuế của "người bán" liệu có khớp với liên 2 của hóa đơn mà họ cung cấp cho doanh nghiệp mua?
- Và nhiều câu hỏi tương tự như vậy mà người viết bài tin rằng, khi đã làm giả thì bạn vô cùng khó để giải thích cho hợp tình hợp lý. Lời khuyên là "Tốt nhất đừng mua hóa đơn", hãy làm cách tốt hơn.
Trường hợp 2: Có những doanh nghiệp chấp nhận giá mua hóa đơn lên đến 20% hoặc cao hơn. Trường hợp này khẳng định luôn rằng "tại sao không nộp thuế cho lành mà phải cố tính làm giả"? Vì nếu nộp thuế, doanh nghiệp sẽ an toàn hơn, tội gì phải đưa số tiền tương đương với tiền nộp thuế để mua lại rủi ro từ doanh nghiệp bán khống hóa đơn, và mang gánh nặng trên vai?
Những rủi ro tiềm ẩn khi mua hóa đơn
- Người bán hóa đơn trao cho người mua hóa đơn liên 2 theo thông lệ, nhưng giá trị giữa các liên hóa đơn khác nhau. Ví dụ: Hóa đơn giao cho bên mua ghi 1 tỷ, nhưng liên 1 và liên 3 của bên bán được thủ thuật hóa và chỉ ghi 1 triệu.
- Nếu mua trên 20 triệu, doanh nghiệp bên mua buộc phải "chuyển khoản" vào tài khoản của bên bán. Khi cái việc bán khống hóa đơn họ còn dám làm thì điều gì liệu sẽ có rủi ro gì khi mà bên mua hóa đơn chuyển một khoản tiền lớn vào công ty họ. Cách mà bên bán lách là rút ra tiền mặt trả lại cho bên mua sau khi trích lại "giá bán hóa đơn". Nhưng tài khoản của doanh nghiệp hiện nay đã bị kiểm soát khá chặt, thường thì cơ quan thuế sẽ yêu cầu giải trình khi có các giao dịch dạng như: có khoản tiền vào ngân hàng rồi lại rút ra khoản tương ứng gần như ngay lập tức. Nếu chịu khó phân tích chút thôi, bạn có thấy như vậy là rủi ro và nguy hiểm?
- Bên bán khống hóa đơn có thể ngưng hoạt động, bỏ trốn, bị kiểm tra, bị bắt, bị phạt bất cứ lúc nào... và điều gì xẩy ra với doanh nghiệp mua hóa đơn chắc bạn đã có thể hình dung rồi đó. Nhẹ thì xuất toán, yêu cầu giải trình, nặng thì "truy tố hình sự".
- Các công ty/doanh nghiệp có dấu hiệu buôn bán hóa đơn hoặc có dấu hiệu rủi ro hóa đơn luôn nằm trong vòng "kiểm soát" đặc biệt của cơ quan quản lý thuế.
- Doanh nghiệp mua hóa đơn không giải trình được tính hợp lý, có thật của hóa đơn đầu vào có được do mua bán khống, vậy thì vẫn bị xuất toán, phạt hành chính thậm chí điều tra hình sự. Điều này nghĩa là, khi mua hóa đơn, doanh nghiệp đã cố gắng chi tiền mua rủi ro về mình.
Nếu không mua khống hóa đơn sẽ thiếu chi phí, nộp thuế nhiều, vây phải làm sao?
Đây là sự trăn trở chính đáng của bất kỳ doanh nghiệp nào. Người viết bài cho rằng, không có một hoạt động kinh doanh chân chính nào mà lại "thiếu chi phí" cả. Tất nhiên có thể kinh doanh lãi lớn thì nộp thuế nhiều. Nhưng ngược lại, doanh nghiệp phải kiểm soát lại một cách nghiêm túc xem, liệu kế toán viên đã thực hiện và vận dụng hết tất cả các quy định của pháp luật về kế toán thuế để không bỏ sót quyền lợi của doanh nghiệp hay chưa? Tôi cũng như nhiều đồng nghiệp, có kinh nghiệm làm kế toán khoảng trên 10 năm đều cho rằng: pháp luật về thuế hiện nay đã cởi trói nhiều cho doanh nghiệp, hướng dẫn rất nhiều tình huống, trường hợp được ghi nhận chi phí hợp lệ ngay cả khi không có hóa đơn tài chính.
Hơn nữa, về cơ bản, quy định về chi phí được trừ khi xác định nghĩa vụ thuế TNDN của doanh nghiệp là thừa nhận toàn bộ chi phí của doanh nghiệp nếu khoản chi phí đó có hồ sơ, chứng minh được tính có thực và hợp lý tương đối với doanh thu phát sinh. Chẳng hạn như: chi phí phát sinh mua thanh lý từ hộ gia đình, mua của người dân sản xuất trực tiếp không kinh doanh, thuê tài sản, khoán chi phí... thì đâu cần "hóa đơn đỏ" như xưa. Chỉ cần người làm kế toán thuế có am hiểu đủ rộng và sâu thì chắc chắn sẽ có biện pháp "hợp pháp" để ghi nhận đầy đủ chi phí, đảm bảo đầy đủ quyền lợi của doanh nghiệp thậm chí là tối ưu thuế phải nộp mà không cần dùng đến hạ sách "mua hóa đơn".
Lời kết: Thuế GTGT là thuế của người tiêu dùng/doanh nghiệp mua nộp ngân sách thông qua doanh nghiệp bán và thể hiện trên hóa đơn tài chính của doanh nghiệp bán, vậy nên, hãy sòng phẳng ngay từ khâu đầu vào và hiểu cho đúng về bản chất của nó. Nói vậy vì hiện nay, nhiều giám đốc doanh nghiệp vẫn lầm tưởng, thuế GTGT là trách nhiệm của doanh nghiệp mình nộp. Xin nhắc lại, đó là thuế của người mua nộp, doanh nghiệp bán chỉ kê khai và nộp hộ mà thôi. Thuế TNDN mới là thuế thực sự của doanh nghiệp, nó cần được đảm bảo bằng hệ thống hóa đơn, chứng từ, hệ thống sổ sách kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán thuế hoàn chỉnh, chặt chẽ, logic, phù hợp và luôn phải đảm bảo "có thể giải trình" nếu bạn muốn an toàn và tối ưu. Và cuối cùng, xin đừng bao giờ cố tính mua khống hóa đơn đầu vào vì trước sau gì cũng có hệ lụy dành cho doanh nghiệp mua.
Ở góc độ giám đốc doanh nghiệp, hãy coi trọng sự nghiệp kinh doanh của bạn hơn thì chắc chắn sẽ không phải dùng đến hạ sách "mua bán hóa đơn".
Bài viết chỉ thể hiện quan điểm cá nhân của người viết bài, mong nhận được nhiều phản hồi, trao đổi của bạn đọc.
Đây là sự trăn trở chính đáng của bất kỳ doanh nghiệp nào. Người viết bài cho rằng, không có một hoạt động kinh doanh chân chính nào mà lại "thiếu chi phí" cả. Tất nhiên có thể kinh doanh lãi lớn thì nộp thuế nhiều. Nhưng ngược lại, doanh nghiệp phải kiểm soát lại một cách nghiêm túc xem, liệu kế toán viên đã thực hiện và vận dụng hết tất cả các quy định của pháp luật về kế toán thuế để không bỏ sót quyền lợi của doanh nghiệp hay chưa? Tôi cũng như nhiều đồng nghiệp, có kinh nghiệm làm kế toán khoảng trên 10 năm đều cho rằng: pháp luật về thuế hiện nay đã cởi trói nhiều cho doanh nghiệp, hướng dẫn rất nhiều tình huống, trường hợp được ghi nhận chi phí hợp lệ ngay cả khi không có hóa đơn tài chính.
Hơn nữa, về cơ bản, quy định về chi phí được trừ khi xác định nghĩa vụ thuế TNDN của doanh nghiệp là thừa nhận toàn bộ chi phí của doanh nghiệp nếu khoản chi phí đó có hồ sơ, chứng minh được tính có thực và hợp lý tương đối với doanh thu phát sinh. Chẳng hạn như: chi phí phát sinh mua thanh lý từ hộ gia đình, mua của người dân sản xuất trực tiếp không kinh doanh, thuê tài sản, khoán chi phí... thì đâu cần "hóa đơn đỏ" như xưa. Chỉ cần người làm kế toán thuế có am hiểu đủ rộng và sâu thì chắc chắn sẽ có biện pháp "hợp pháp" để ghi nhận đầy đủ chi phí, đảm bảo đầy đủ quyền lợi của doanh nghiệp thậm chí là tối ưu thuế phải nộp mà không cần dùng đến hạ sách "mua hóa đơn".
Lời kết: Thuế GTGT là thuế của người tiêu dùng/doanh nghiệp mua nộp ngân sách thông qua doanh nghiệp bán và thể hiện trên hóa đơn tài chính của doanh nghiệp bán, vậy nên, hãy sòng phẳng ngay từ khâu đầu vào và hiểu cho đúng về bản chất của nó. Nói vậy vì hiện nay, nhiều giám đốc doanh nghiệp vẫn lầm tưởng, thuế GTGT là trách nhiệm của doanh nghiệp mình nộp. Xin nhắc lại, đó là thuế của người mua nộp, doanh nghiệp bán chỉ kê khai và nộp hộ mà thôi. Thuế TNDN mới là thuế thực sự của doanh nghiệp, nó cần được đảm bảo bằng hệ thống hóa đơn, chứng từ, hệ thống sổ sách kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán thuế hoàn chỉnh, chặt chẽ, logic, phù hợp và luôn phải đảm bảo "có thể giải trình" nếu bạn muốn an toàn và tối ưu. Và cuối cùng, xin đừng bao giờ cố tính mua khống hóa đơn đầu vào vì trước sau gì cũng có hệ lụy dành cho doanh nghiệp mua.
Ở góc độ giám đốc doanh nghiệp, hãy coi trọng sự nghiệp kinh doanh của bạn hơn thì chắc chắn sẽ không phải dùng đến hạ sách "mua bán hóa đơn".
Bài viết chỉ thể hiện quan điểm cá nhân của người viết bài, mong nhận được nhiều phản hồi, trao đổi của bạn đọc.
09:28
Hãy nêu một số biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm trong nhận thức và thực tiễn. Tại sao chủ nghĩa duy tâm về cơ bản là sai, nhưng vẫn không bị loại bỏ hoàn toàn trong triết học và cuộc sống ?
Khái quát chung về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghia duy tâm trong triết học
Triết học hiểu theo nghĩa chung nhất đó là môn khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của thế giới. Triết học ra đời từ rất lâu đời qua một quá trình lịch sử rất lâu dài. Lịch sử triết học đó là một vấn đề rất quan trọng của triết học. Khi chúng ta nghiên cứu lịch sử triết học nói chung thì vấn đề cơ bản nhất của lịch sử triết học đó là cuộc đấu tranh giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm. Vấn đề này được coi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử triết học. Cuộc đấu tranh này cũng chính là sự phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội đã phân chia thành các giai cấp đối kháng . Thường thường (trừ một số trờng hợp ngoại lệ) Chủ Nghĩa Duy Vật thể hiện thế giới quan của những lực lượng tiên tiến, tiến bộ xã hội đại diện cho những tư tưởng tiên tiến của từng thời đại. Còn Chủ Nghĩa Duy Tâm (tuy không phải bao giờ cũng vậy) nhưng là thế giới quan của lực lượng suy tàn bảo thủ và phản động của xã hội, đại diện cho những tư tưởng trì trệ của từng thời đại. Trong thế giới quan của Chủ Nghĩa Duy Vật khẳng định tính thứ nhất có trước của vật chất và tính thứ hai có sau của ý thức. Họ cho rằng vật chất sinh ra trước ý thức và quyết định ý thức, còn ý thức có sau là sự phản ánh những mặt, những yếu tố của vật chất; và Chủ Nghĩa Duy Vật khẳng định con người có khả năng nhận thức thế giới. Ngược lại Chủ Nghĩa Duy Tâm khẳng định tính thứ nhất có trước của ý thức và tính thứ hai có sau của vật chất, họ cho rằng ý thức có trước vật chất và ý thức quyết định vật chất họ phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người, họ cho rằng sự nhận thức chỉ có được ở thế giới thần linh thượng đế do thượng đế quyết định. Để thấy rõ dợc cuộc đấu tranh giữa hai trường phái triết học Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm chúng ta nghiên cứu cuộc đấu tranh đó trong sự hình thành và phát triển của lịch sử triết học. Hiểu được vấn đề này chúng ta không chỉ dừng lại ở những hiểu biết thông thường mà nó còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với chúng ta trong việc giải quyết những vấn đề về thế giới quan và những vấn đề về kinh tế xã hội đang diễn ra xung quanh đời sống của mỗi cá nhân trong xã hội . Để tìm hiểu cuộc đấu tranh của Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm chúng ta có thể đi qua một số giai đoạn và một số nhân vật tiêu biểu ở những thời kỳ nhất định và cuộc đấu tranh giữa chúng.
Triết học hiểu theo nghĩa chung nhất đó là môn khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của thế giới. Triết học ra đời từ rất lâu đời qua một quá trình lịch sử rất lâu dài. Lịch sử triết học đó là một vấn đề rất quan trọng của triết học. Khi chúng ta nghiên cứu lịch sử triết học nói chung thì vấn đề cơ bản nhất của lịch sử triết học đó là cuộc đấu tranh giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm. Vấn đề này được coi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử triết học. Cuộc đấu tranh này cũng chính là sự phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội đã phân chia thành các giai cấp đối kháng . Thường thường (trừ một số trờng hợp ngoại lệ) Chủ Nghĩa Duy Vật thể hiện thế giới quan của những lực lượng tiên tiến, tiến bộ xã hội đại diện cho những tư tưởng tiên tiến của từng thời đại. Còn Chủ Nghĩa Duy Tâm (tuy không phải bao giờ cũng vậy) nhưng là thế giới quan của lực lượng suy tàn bảo thủ và phản động của xã hội, đại diện cho những tư tưởng trì trệ của từng thời đại. Trong thế giới quan của Chủ Nghĩa Duy Vật khẳng định tính thứ nhất có trước của vật chất và tính thứ hai có sau của ý thức. Họ cho rằng vật chất sinh ra trước ý thức và quyết định ý thức, còn ý thức có sau là sự phản ánh những mặt, những yếu tố của vật chất; và Chủ Nghĩa Duy Vật khẳng định con người có khả năng nhận thức thế giới. Ngược lại Chủ Nghĩa Duy Tâm khẳng định tính thứ nhất có trước của ý thức và tính thứ hai có sau của vật chất, họ cho rằng ý thức có trước vật chất và ý thức quyết định vật chất họ phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người, họ cho rằng sự nhận thức chỉ có được ở thế giới thần linh thượng đế do thượng đế quyết định. Để thấy rõ dợc cuộc đấu tranh giữa hai trường phái triết học Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm chúng ta nghiên cứu cuộc đấu tranh đó trong sự hình thành và phát triển của lịch sử triết học. Hiểu được vấn đề này chúng ta không chỉ dừng lại ở những hiểu biết thông thường mà nó còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với chúng ta trong việc giải quyết những vấn đề về thế giới quan và những vấn đề về kinh tế xã hội đang diễn ra xung quanh đời sống của mỗi cá nhân trong xã hội . Để tìm hiểu cuộc đấu tranh của Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm chúng ta có thể đi qua một số giai đoạn và một số nhân vật tiêu biểu ở những thời kỳ nhất định và cuộc đấu tranh giữa chúng.
1.1> Hoàn cảnh lịch sử :
Hy Lạp là một nớc nằm ven bờ Địa Trung Hải nơi có điều kiện rất thuận tiện cho việc giao luư phát triển kinh tế cũng như phát triển nền nông nghiệp. Thế kỷ XV đến thế kỷ IX trước công nguyên chế độ công xã nguyên thuỷ đã hình thành và tan rã chế độ chiếm hữu nô lệ. Đã có những biến động lớn ở Hy Lạp về kinh tế xã hội người ta biết được do hai tập thơ nổi tiếng của Hô Mere sáng tác ( nhà thơ mù ). Vào thế kỷ V trước công nguyên xảy ra cuộc chiến tranh giữa Hy Lạp và Ba Tư, kết thúc bằng chiến thắng thuộc về Hy Lạp mở ra một thời kỳ hưng thịnh về kinh tế và chính trị. Một quốc gia bao gồm 300 quốc gia nhỏ thành liên bang Hy Lạp trong đó có 2 bang lớn nhất thời kỳ này đó là Spac và Aten. Tuy nhiên hai bang này luôn luôn mâu thuẫn với nhau cho nên xảy ra cuộc chiến tranh kéo dài hàng chục năm, cuối cùng Spac đã chiến thắng nhưng chính cuộc chiến tranh đó đã làm cho nền kinh tế Hy Lạp suy yếu nặng nề. Trong khi đó vua Phi-líp của Ma xe đoan đã đem quân chiếm toàn bộ Hy Lạp. Tuy bị xâm chiếm như vậy nhưng nền văn hoá Hy Lạp vẫn phát triển mạnh mẽ và chính nền văn hoá Hy Lạp đã chinh phục lại những người đi xâm chiếm với hoàn cảnh lịch sử như vậy đã phản ánh vào tư tưởng triết học.
1.2> Sự ra đời và phát triển của triết học :
Từ những nét đặc thù về kinh tế xã hội trên đây, triết học Hy Lạp ra đời và mang những đặc điểm cơ bản sau đây.
+ Thứ nhất sự phân chia và đối lập giữa các trờng phái triết học Duy Tâm và Duy Vật Biện Chứng và Siêu Hình Vô Thần và Hữu Thần là nét nổi bật trong quá trình hình thành và phát triển của triết học. Trong đó điển hình là cuộc đấu tranh giữa hai đờng lối triết học ; đường lối Duy Vật của Đe mô-crít và đường lối Duy Tâm của Platon.
+ Thứ hai các trường phái triết học nói chung đều có xu hướng đi sâu giải quyết các vấn đề về bản thổ và nhận thức luận triết học là những vấn đề của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
+ Thứ ba triết học Hy Lạp cổ đại nói chung (cũng như triết học cổ đại của nhiều nước khác) còn ở trình độ trực quan chất phác đặc biệt là đối với các hệ thống triết học Duy Vật. Tuy vậy nó đã đặt ra hầu hết các vấn đề triết học căn bản nó chứa đựng mầm mống của tất cả thế giới quan Duy Vật.
Vai trò của triết học Hy Lạp cổ đại rất quan trọng nó không chỉ đơn thuần là sự phân biệt giữa hai nền triết học Đông Tây cổ đại mà còn nói lên vai trò của triết học Hy Lạp cổ đại đối với lịch sử triết học thế giới nó là nền tảng cho sự phát triển của triết học Tây Âu trên 2000 năm sau.Có thể nói rằng từ khi ra đời triết học Hy Lạp cổ đại đã xảy ra những cuộc đấu tranh mạnh mẽ giữa hai trường phái triết học Duy Vật và Duy Tâm. Điển hình của thời kỳ này ở Hy Lạp đó là cuộc đấu tranh giữa đờng lối Duy Vật của Đe mo-crít và Duy Tâm của Platon.
1.3> Cuộc đấu tranh giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Duy Tâm:
Cuộc đấu tranh giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm như trên đã nói đó là cuộc đấu tranh giữa trường phái Duy Vật của Đe mo-crít và Duy Tâm của Platon là tiêu biểu và điển hình hơn cả. Đe mo-crít (460-370 TCN) là một trong những nhà Duy Vật lớn của thời kỳ cổ đại chiếm vị trí nổi bật trong triết học Duy Vật Hy Lạp cổ đại(1) ông đã có quá trình tích luỹ kiến thức qua việc đi qua các nước ở phương đông, Babilon, là người am hiểu rất nhiều lĩnh vực. Platon là đại diện cho trường phái Duy tâm, ông là người đầu tiên xây dựng hệ thống hoàn chỉnh của Chủ Nghĩa Duy Tâm khách quan đối lập với thế giới quan Duy Vật. Ông là người đã tiến hành đấu tranh gay gắt chống lại Chủ Nghĩa Duy Vật đặc biệt là chống lại những đại biểu của Chủ Nghĩa Duy Vật thời bấy giờ như Hê ra crít hay Đe mo crít.(1)
- Về vấn đề khởi nguyên của thế giới , Đe mo-crít quan niệm rằng nguyên tử và khoảng trống là cơ sở đầu tiên cấu tạo nên mọi vật đó là những hạt vật chất cực nhỏ, không nhìn thấy được, không màu sắc, không âm thanh, không mùi vị, không thể phân chia được, không khác nhau về chất mà chỉ khác nhau về hình thức, trật tự, tư thế. Nguyên tử có rất nhiều nhng mỗi nguyên tử có một hình thức nhất định: hình cầu, góc cạnh và mỗi loại sinh vật đều được cấu thành bởi các nguyên tử do chúng kết hợp với nhau theo một trật tự nhất định.
- Ông quan niệm sinh vật biết đổi là do sự sắp xếp các nguyên tử. Ông quan niệm về bản nguyên thế giới mang tính hình tượng nhưng chưa thoát khỏi trực quan cảm tính, biểu hiện là ông coi các nguyên tử có hình dạng nhất định. Còn Platon cho rằng ý niệm là nguồn gốc sinh ra thế giới. ý niệm tồn tại ngoài con người, ngoài cảm giác của con người; ý niệm tồn tại vĩnh viễn bất biến, bất động (2). Các sự vật cụ thể có thể cảm thụ được bằng cảm giác chỉ là bản sao của các ý niệm dựa vào ý niệm hay đúng hơn là thế giới ý niệm. Platon thừa nhận có hai thế giới tồn tại: thế giới ý niệm, là thế giới tồn tại vĩnh viễn, bất biến, bất động, tuyệt đối chân thực cơ sở tồn tại của thế giới sự vật cảm tính. Còn thế giới sự vật cảm tính là thế giới tồn tại không chân thực, luôn luôn biến đổi, là cái bóng của ý niệm, do ý niệm sản sinh ra, phụ thuộc vào ý niệm loài ngời cũng thuộc về thế giới này.
- Về vũ trụ Đe mo-crít cho rằng vũ trụ là vô tận vĩnh cửu; có vô số thế giới phát sinh phát triển và tiêu diệt. Còn Platon thì ngược lại ông cho rằng vũ trụ này không tồn tại thực, tất cả chỉ là sự phức hợp của ý niệm do ý niệm quy định do thượng đế quyết định và không tồn tại.
- Về vấn đề linh hồn: theo Đe mo-crít, ông đã bác bỏ quan niệm về sự sản sinh ra sự sống và con ngời của thần thánh. Theo ông sự sống là kết quả biến đổi dần dần từ thấp đến cao của tự nhiên. Sinh vật đầu tiên xuất hiện ở môi trường nước và dới tác động của nhiệt độ. Sinh vật đó sống dưới nước, sau đó dần dần xuất hiện sinh vật có vú sống trên cạn. Cuối cùng là con người ra đời trên quả đất. Ông đã phân biệt rõ ràng sự vật và sinh vật chúng khác nhau ở chỗ sự vật không có linh hồn, còn sinh vật có linh hồn: linh hồn được cấu tạo bởi các nguyên tử hình cầu, giống như nguyên tử của lửa vận động với vận tốc cao. Nguyên tử linh hồn sinh ra nhiệt, nhiệt làm cho cơ thể hưng phấn và vận động. Ông coi cái chết là sự phân tán của các nguyên tử cấu tạo nên thể xác và các nguyên tử cấu tạo nên linh hồn chứ không phải là linh hồn lìa khỏi thể xác. Tuy quan niệm của Đe mo-crít về linh hồn còn mang tính mộc mạc, song nó giữ vai trò rất quan trọng trong việc chống lại quan điểm duy tâm, tôn giáo về tính bất tử của linh hồn.
Còn Platon cho rằng con người bao gồm linh hồn và thể xác tồn tại độc lập với nhau . Linh hồn của con người là một bộ phận của linh hồn vũ trụ do thượng đế sáng tạo ra do đó nó bất tử và tồn tại vĩnh hằng(2). Khi con ngời chết linh hồn sẽ thoát ra khỏi con người và bay lên trú ngụ ở một vì sao. Khi thể xác mới ra đời, linh hồn bay xuống nhập vào thể xác đó và tạo ra con ngời hoàn chỉnh bao gồm cả linh hồn và thể xác. Trong khi bay xuống nhập vào thể xác con người linh hồn đã lãng quên những điều quan sát được ở thế giới những ý niệm. Vì thế, nhận thức của con người thực chất là sự hồi tưởng, sự nhớ lại của linh hồn về những điều mà nó đã lãng quên. Về vấn đề nhận thức: Đe mo-crít là người có công lao to lớn trong lịch sử triết học về vấn đề xây dựng lý luận nhận thức vai trò của cảm giác vớ tính cách là điểm khởi đầu của nhận thức và vai trò của tư duy trong việc nhận thức thế giới xung quanh(2).
Theo Đe mo-crít sở dĩ con người có những cảm giác khác nhau về màu sắc mùi vị, âm thanh nóng lạnh là do những nguyên tử khối hợp tạo nên chủ thể nhận thức. Điều đó có nghĩa là đối tượng của nhận thức là vật chất thế giới xung quanh con người và nhờ sự tác động của đối tợng nhận thức vào con người nên con người mới nhận thức được. Ông chia ra nhận thức thành nhận thức mờ tối và nhận thức chân lý. Nhận thức mờ tối là nhận thức do các giác quan đem lại. Nhận thức chân lý là nhận thức do sự phân tích sâu sắc sự vật để nắm chắc bẳn chất bên trong của nó. Ông quan niệm rằng hai dạng nhận thức đó có liên quan với nhau chặt chẽ. Trong đó cảm giác là bước đầu của nhận thức. Ông xây dựng nên thuyết hình ảnh(I-dô-lơ) mộc mạc.Ông quan niệm bề ngoài của sự vật toát ra những hơi thở tinh tế tạo thành hình ảnh của chúng, những hơi thở tinh tế đó tác động vào cơ quan cảm giác của con người làm cho mọi người cảm nhận được sự vật. Song cảm giác là nhận thức mờ tối vì nó cha là cho con người hiểu được bản chất tinh tế nằm sâu trong sự vật. Do đó con người phải dựa vào nhận thức sâu sắc hơn.
Qua đây chúng ta có thể thấy theo Đê mo-crít lý tính, phải dựa vào những dẫn chứng do cảm tính đem lại và sau đó cần phải đi sâu vào phân tích tìm chân lý đang còn nằm sâu dưới đáy bể. Điều này có thể thấy rằng ông không hề phủ nhận khả năng nhận thức chân lý khách quan của con người. Còn Platon cho rằng chỉ có nhận thức lý tính đa vào khái niệm mới có thể đạt tới tri thức chân thực, nhân thức cảm tính không bao giờ đạt tới tri thức chân thực mà chỉ đa lại dư luận. Thực chất của vấn đề này là Platon đã đề cao vai trò của nhận thức lý tính và hạ thấp vai trò của nhận thức cảm tính. Ông cho rằng nhận thức chẳng qua là sự hồi tưởng, nhớ lại những ý niệm.
Còn Platon cho rằng con người bao gồm linh hồn và thể xác tồn tại độc lập với nhau . Linh hồn của con người là một bộ phận của linh hồn vũ trụ do thượng đế sáng tạo ra do đó nó bất tử và tồn tại vĩnh hằng(2). Khi con ngời chết linh hồn sẽ thoát ra khỏi con người và bay lên trú ngụ ở một vì sao. Khi thể xác mới ra đời, linh hồn bay xuống nhập vào thể xác đó và tạo ra con ngời hoàn chỉnh bao gồm cả linh hồn và thể xác. Trong khi bay xuống nhập vào thể xác con người linh hồn đã lãng quên những điều quan sát được ở thế giới những ý niệm. Vì thế, nhận thức của con người thực chất là sự hồi tưởng, sự nhớ lại của linh hồn về những điều mà nó đã lãng quên. Về vấn đề nhận thức: Đe mo-crít là người có công lao to lớn trong lịch sử triết học về vấn đề xây dựng lý luận nhận thức vai trò của cảm giác vớ tính cách là điểm khởi đầu của nhận thức và vai trò của tư duy trong việc nhận thức thế giới xung quanh(2).
Theo Đe mo-crít sở dĩ con người có những cảm giác khác nhau về màu sắc mùi vị, âm thanh nóng lạnh là do những nguyên tử khối hợp tạo nên chủ thể nhận thức. Điều đó có nghĩa là đối tượng của nhận thức là vật chất thế giới xung quanh con người và nhờ sự tác động của đối tợng nhận thức vào con người nên con người mới nhận thức được. Ông chia ra nhận thức thành nhận thức mờ tối và nhận thức chân lý. Nhận thức mờ tối là nhận thức do các giác quan đem lại. Nhận thức chân lý là nhận thức do sự phân tích sâu sắc sự vật để nắm chắc bẳn chất bên trong của nó. Ông quan niệm rằng hai dạng nhận thức đó có liên quan với nhau chặt chẽ. Trong đó cảm giác là bước đầu của nhận thức. Ông xây dựng nên thuyết hình ảnh(I-dô-lơ) mộc mạc.Ông quan niệm bề ngoài của sự vật toát ra những hơi thở tinh tế tạo thành hình ảnh của chúng, những hơi thở tinh tế đó tác động vào cơ quan cảm giác của con người làm cho mọi người cảm nhận được sự vật. Song cảm giác là nhận thức mờ tối vì nó cha là cho con người hiểu được bản chất tinh tế nằm sâu trong sự vật. Do đó con người phải dựa vào nhận thức sâu sắc hơn.
Qua đây chúng ta có thể thấy theo Đê mo-crít lý tính, phải dựa vào những dẫn chứng do cảm tính đem lại và sau đó cần phải đi sâu vào phân tích tìm chân lý đang còn nằm sâu dưới đáy bể. Điều này có thể thấy rằng ông không hề phủ nhận khả năng nhận thức chân lý khách quan của con người. Còn Platon cho rằng chỉ có nhận thức lý tính đa vào khái niệm mới có thể đạt tới tri thức chân thực, nhân thức cảm tính không bao giờ đạt tới tri thức chân thực mà chỉ đa lại dư luận. Thực chất của vấn đề này là Platon đã đề cao vai trò của nhận thức lý tính và hạ thấp vai trò của nhận thức cảm tính. Ông cho rằng nhận thức chẳng qua là sự hồi tưởng, nhớ lại những ý niệm.
- Về quan điểm chính trị- xã hội : Đe mo-crít đứng trong lập trường của phái chủ nô dân chủ, kịch liệt chống lại phái chủ nô quý tộc (2). Ông ra sức bảo vệ và tuyên truyền cho chế độ dân chủ của chủ nô trong đó thể hiện quyền lợi của mình gắn liền với sự phát triển ngày càng một mạnh mẽ của thương mại và công nghiệp. Ông đề cao, ca ngượi cổ vữ cho tình thân ái, tính ôn hoà lợi ích chung và quyền lợi chung của công dân tự do. Theo ông cần phải ưa thích cái nghèo trong một Nhà Nước dân chủ hơn so với cái gọi là cuộc sống hạnh phúc trong chế độ chuyên chế tựa như là tự do tốt hơn nô lệ (3). Đương nhiên là do xuất thân từ tầng lớp chủ nô dân chủ Đe mo-rít chỉ đề cập đến nền dân chủ của chủ nô, còn bản thân nô lệ thì cũng như các nhà tư tưởng khác, ông cho rằng phải biết tuân theo người chủ nô. Ông đề cao Nhà nước, chính Nhà nước đóng vai trò duy trì trật tự và điều hành xã hội. Theo Đe mo-crít cần phải trừng trị nghiêm khắc những kẻ vi phạm pháp luật hay chuẩn mực đạo đức nào đó. Phơng châm tư tưởng của Đe mo-crít là thà sống nghèo khổ còn hơn là giàu có nhưng mất tự do dân chủ. Mục tiêu của con ngời là sống hạnh phúc nhưng hạnh phúc không đơn thuần chỉ là giàu có. Ông khẳng định hạnh phúc là sự thanh thản trong tâm hồn và được tự do. Chỉ có người biết bằng lòng với sự hưởng lạc vừa phải thì mới được hạnh phúc .
Còn Platon: ông đề cao vai trò của chế độ quý tộc đứng trên lập trường của phái chủ nô quý tộc chống lại chế độ dân chỉ tiến bộ của xã hội. Ông cho rằng linh hồn gồm các bộ phận lý tính, ý chí và cảm tính trong xã hội có các hạng người tương ứng với các bộ phận của linh hồn. Lý tính là cơ sở của các đức tính cao cả chỉ có được ở những nhà triết học, các nhà thông thái ; ý chí là cơ sở của đức tính can đảm. Nó thể hiện ở trong những người lính, những chiến binh. Cảm tính là cơ sở của các đức tính thận trọng. Đức tính này thường có ở những người dân tự do, những người thợ thủ công. Platon đặc biệt miệt thị nô lệ. Theo ông nô lệ không phải là người mà chỉ là động vật biết nói, không có đạo đức. Platon chủ trương duy tri các hạng người trong xã hội, cũng có nghĩa là duy trì sự bất bình đẳng giữa mọi người. Nhà nước ra đời là để đáp ứng những nhu cầu đó. Theo Platon hình thức cộng hoà là Nhà nước lý tưởng. Trong đó quyền thống trị tuyệt đối về tầng lớp chủ nô quý tộc. Nhà nước, đó là hiện thân của cả ba đức tính đó là thông thái, can đảm và thận trọng. Trong Nhà nước lý tưởng, ông chia xã hội ra thành 3 đẳng cấp dựa vào đặc trưng đạo đức. Đẳng cấp thứ nhất là các nhà triết học, các nhà thông thái, giữ vai trò lãnh đạo xã hội ; đẳng cấp thứ hai là quân nhân có trách nhiệm bảo vệ Nhà nước lý tưởng; đẳng cấp thứ ba là dân lao động tự do, thợ thủ công và những người tự do khác làm ra sản phẩm nuôi sống Nhà nước.
Còn Platon: ông đề cao vai trò của chế độ quý tộc đứng trên lập trường của phái chủ nô quý tộc chống lại chế độ dân chỉ tiến bộ của xã hội. Ông cho rằng linh hồn gồm các bộ phận lý tính, ý chí và cảm tính trong xã hội có các hạng người tương ứng với các bộ phận của linh hồn. Lý tính là cơ sở của các đức tính cao cả chỉ có được ở những nhà triết học, các nhà thông thái ; ý chí là cơ sở của đức tính can đảm. Nó thể hiện ở trong những người lính, những chiến binh. Cảm tính là cơ sở của các đức tính thận trọng. Đức tính này thường có ở những người dân tự do, những người thợ thủ công. Platon đặc biệt miệt thị nô lệ. Theo ông nô lệ không phải là người mà chỉ là động vật biết nói, không có đạo đức. Platon chủ trương duy tri các hạng người trong xã hội, cũng có nghĩa là duy trì sự bất bình đẳng giữa mọi người. Nhà nước ra đời là để đáp ứng những nhu cầu đó. Theo Platon hình thức cộng hoà là Nhà nước lý tưởng. Trong đó quyền thống trị tuyệt đối về tầng lớp chủ nô quý tộc. Nhà nước, đó là hiện thân của cả ba đức tính đó là thông thái, can đảm và thận trọng. Trong Nhà nước lý tưởng, ông chia xã hội ra thành 3 đẳng cấp dựa vào đặc trưng đạo đức. Đẳng cấp thứ nhất là các nhà triết học, các nhà thông thái, giữ vai trò lãnh đạo xã hội ; đẳng cấp thứ hai là quân nhân có trách nhiệm bảo vệ Nhà nước lý tưởng; đẳng cấp thứ ba là dân lao động tự do, thợ thủ công và những người tự do khác làm ra sản phẩm nuôi sống Nhà nước.
Như vậy, chúng ta thấy ngay từ khi ra đời triết học Hy Lạp cổ đại đã xảy ra cuộc đấu tranh mạnh mẽ giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm mà đại biểu tiêu biểu nhất là Đe mo-crít của phái và Platon của phái duy tâm. Bên cạnh đó còn có nhiều nhà triết học khác của phái duy vật như Anatago. Am pê đốc lơ hay Ê pi crát .v.v...Có thể thấy rằng ngay từ thời cổ đại nhận thức của con người tuy còn nhiều hạn chế song giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm đã hình thành nên cuộc đấu tranh gay gắt không thể điều hoà được về mọi mặt trong xã hội .
Chương II. triết học tây âu thời trung cổ.
2.1 Hoàn cảnh lịch sử :
2.1 Hoàn cảnh lịch sử :
Thời kỳ trung cổ là thời kỳ tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và đánh dấu sự ra đời của chế độ phong kiến. Những cuộc nổi dậy của giai cấp nô lệ mà đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Xpắc Ta quýt rất lớn đã thu hút rất nhiều người tham gia đã thay đổi hình thức bóc lột siêu kinh tế sang phát canh thu địa tô.
Trong xã hội đã diễn ra sự phân hoá giai cấp rất sâu sắc, đã hình thành hai giai cấp cơ bản củ phương thức sản xuất phong kiến đó là các địa chủ phong kiến và giai cấp nông nô. Nhưng giai cấp nông nô lại bị cột chặt vào ruộng đất của giai cấp phong kiến bởi những chính sách thuế khoá nặng nề. Nông nô không chỉ lệ thuộc vào thân thế và họ không có quyền lợi gì.Lê nin đã từng nói đây là sự lệ thuộc nhục nhã về mặt có nhân và tối tăm về mặt trí tuệ.
- Về kinh tế xã hội : Thời kỳ này ở Tây Âu là thời kỳ tồn tại của nền kinh tế tự cung, tự cấp. Mọi sản phẩm làm ra chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu của các điền trang, thái ấp mà không nhằm mục đích trao đổi. Mỗi điền trang thái ấp là một khu biệt lập khép kín. Nền kinh tế thời kỳ này phát triển một cách ì ạch và chậm chạp.
- Về tinh thần, đây là thời kỳ thống trị của thế giới quan nhà thờ và tôn giáo. Nhà thờ và tu viện là những tên đại địa chủ chiếm nhiều ruộng đất, có những tu viện chiếm hàng trăm ngàn hécta ruộng đất. Không những thế nhà thờ còn nắm trong tay quyền lực chính trị và luật pháp. Cho nên thời kỳ này cả khoa học và triết học không phát triển được. Các nhà khoa học và thần học không thoát ra khỏi sự giải thích và bình luận của kinh thánh, nên xét về mặt phát triển thì đây là một bước thụt lùi so với trước thời cổ đại.
2.2 Sự thống trị của thần quyền phong kiến không những kìm hãm sự phát triển của khoa học kỹ thuật mà còn ảnh hưởng đến triết học .
Triết học bị phụ thuộc vào thần học. Chủ Nghĩa Duy Vật gắn liền với tư duy khoa học thời kỳ này không có điều kiện để phát triển. Chủ nghĩa kinh viện ra đời đã trở thành nét đặc trưng của triết học Tây Âu thời trung cổ. Chủ nghĩa kinh viện là triết học chính thức chiếm độc quyền giảng dạy trong nhà trường. Triết học này khi ra đời là đã xác định nhiệm vụ: Đầy tớ của thần học và bảo vệ trật tự phong kiến. Vấn đề này được các nhà kinh viện quan tâm nhất đó là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái nào có trước cái nào có sau. Cuộc đấu tranh giữa các quan điểm khác nhau kéo dài vào thế kỷ và phân chia thành hai phái phái duy danh và phái duy thực. Đây là cuộc đấu tranh xuyên suốt toàn bộ lịch sử triết học Tây Âu thời trung cổ. Phái duy thực cho rằng cái chung cái phổ biến các khái niệm chung là tồn tại thực là cái có trước. Nó là một thực thể tinh thần không phụ thuộc vào sự vật cụ thể. Phái duy thực lấy triết học Platon làm cơ sở lý luận và phái này về sau họ còn dựa vào học thuyết hình thức của Đrít xtốt. Chẳng hạn con người nói chung là sự tồn tại ý niệm về con người. Từ đó, nó quyết định sự tồn tại của con người đơn nhất. Phái duy danh quan niệm rằng cái chung, khái niệm cái chung cái phổ biến không tồn tại thực, không độc lập với con người. Nó chỉ là những tên gọi đơn giản mà con ngưới sáng tạo ra. Không có con người hay cái nhà nói chung mà chỉ có con người hay cái nhà tồn tại thực. Cuộc đấu tranh giữa hai trường phái trên là sự thể hiện hai khuynh hướng đối lập nhau trong lịch sử triết học : Chủ Nghĩa Duy Tâm và Chủ Nghĩa Duy Vật. ẩn dấu đằng sau cái vỏ thần học là sự tồn tại khách quan mà con người có thể cảm nhận được, là biểu hiện của phái duy danh. Trái lại, nhận thức, tư tưởng, khái niệm có trước sự vật là biểu hiện của phái duy thực. Như vậy chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy các nhà triết học duy danh gần gũi với Chủ Nghĩa Duy Vật còn các nhà triết học duy thực là biểu hiện của Chủ Nghĩa Duy Tâm. Như vậy cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy thực với chủ nghĩa duy danh ở triết học Tây Âu thời trung cổ thực chất là cuộc đấu tranh giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm. Mặc dù vậy trong thời kỳ này Chủ Nghĩa Duy Tâm thắng thế nhờ sự ủng hộ của thiên chúa giáo và kinh viện . Trong thời kỳ trung cổ triết học Tây Âu có rất nhiều những đại biểu, đại diện cho cả hai phái duy danh và duy thực. Và sau đây là quan điểm của một số đại biểu tiêu biểu nhất của cả hai phái.
Triết học bị phụ thuộc vào thần học. Chủ Nghĩa Duy Vật gắn liền với tư duy khoa học thời kỳ này không có điều kiện để phát triển. Chủ nghĩa kinh viện ra đời đã trở thành nét đặc trưng của triết học Tây Âu thời trung cổ. Chủ nghĩa kinh viện là triết học chính thức chiếm độc quyền giảng dạy trong nhà trường. Triết học này khi ra đời là đã xác định nhiệm vụ: Đầy tớ của thần học và bảo vệ trật tự phong kiến. Vấn đề này được các nhà kinh viện quan tâm nhất đó là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái nào có trước cái nào có sau. Cuộc đấu tranh giữa các quan điểm khác nhau kéo dài vào thế kỷ và phân chia thành hai phái phái duy danh và phái duy thực. Đây là cuộc đấu tranh xuyên suốt toàn bộ lịch sử triết học Tây Âu thời trung cổ. Phái duy thực cho rằng cái chung cái phổ biến các khái niệm chung là tồn tại thực là cái có trước. Nó là một thực thể tinh thần không phụ thuộc vào sự vật cụ thể. Phái duy thực lấy triết học Platon làm cơ sở lý luận và phái này về sau họ còn dựa vào học thuyết hình thức của Đrít xtốt. Chẳng hạn con người nói chung là sự tồn tại ý niệm về con người. Từ đó, nó quyết định sự tồn tại của con người đơn nhất. Phái duy danh quan niệm rằng cái chung, khái niệm cái chung cái phổ biến không tồn tại thực, không độc lập với con người. Nó chỉ là những tên gọi đơn giản mà con ngưới sáng tạo ra. Không có con người hay cái nhà nói chung mà chỉ có con người hay cái nhà tồn tại thực. Cuộc đấu tranh giữa hai trường phái trên là sự thể hiện hai khuynh hướng đối lập nhau trong lịch sử triết học : Chủ Nghĩa Duy Tâm và Chủ Nghĩa Duy Vật. ẩn dấu đằng sau cái vỏ thần học là sự tồn tại khách quan mà con người có thể cảm nhận được, là biểu hiện của phái duy danh. Trái lại, nhận thức, tư tưởng, khái niệm có trước sự vật là biểu hiện của phái duy thực. Như vậy chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy các nhà triết học duy danh gần gũi với Chủ Nghĩa Duy Vật còn các nhà triết học duy thực là biểu hiện của Chủ Nghĩa Duy Tâm. Như vậy cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy thực với chủ nghĩa duy danh ở triết học Tây Âu thời trung cổ thực chất là cuộc đấu tranh giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm. Mặc dù vậy trong thời kỳ này Chủ Nghĩa Duy Tâm thắng thế nhờ sự ủng hộ của thiên chúa giáo và kinh viện . Trong thời kỳ trung cổ triết học Tây Âu có rất nhiều những đại biểu, đại diện cho cả hai phái duy danh và duy thực. Và sau đây là quan điểm của một số đại biểu tiêu biểu nhất của cả hai phái.
- Tô Mát Đa Canh: Ông là đại biểu xuất sắc nhất của phái duy thực trong thời kỳ triết học trung cổ Tây Âu. Học thuyết của ông đợc thiên chúa giáo coi là triết học chính thức của giáo hội thiên chúa. Tô Mát Đa Canh nghiên cứu nhiều lĩnh vực thần học, triết học, pháp quyền... với 18 quyển sách trong tuyển tập của ông hợp thành bộ bách khoa toàn thư về hệ thông tư tưởng thông trị thời trung cổ hưng thịnh. Tô Mát Đa Canh nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học và thần học, giữa lý trí và niềm tin. Ông khẳng định rõ ràng nhưng lại không đối lập nhau thần học và triết học. Ranh giới đó thể hiện ở chỗ nếu như đối tượng nghiên cứu của triết học là chân lý của lý trí thì đối tượng nghiên cứu của thần học là chân lý của niềm tin. Nhưng theo ông cả hai đều có một đối tượng chung đó là thượng đế. Chúng không hề đối lập với nhau nhưng cuối cùng Tô Mát Đa Canh lại hạ thấp triết học và ông nâng cao vai trò và vị trí của thần học. Ông quan niệm rằng triết học chỉ là tôi tớ phục vụ cho thần học mà thôi. Ông nói rằng không phải mọi chân lý của niềm tin tôn giáo đều có thể đạt được bằng sự chứng minh hợp lý. Chân lý tôn giáo không phải là điểm yếu mà triết học dễ thâm nhập vào được bởi vì trí tuệ của con người là có hạn và thấp hơn sự anh minh của thợng đế.
- Quan điểm duy tâm thần bí còn được thể hiện trong nghiên cứ giới tự nhiên. Ông còn cho rằng toàn bộ giới tự nhiên cùng trật tự của nó đều được quyết định bởi sự thông minh của thượng đế đều trải qua sự hợp lý hoá của thợng đế bởi thượng đế là mục đích tối cao và là quy luật vĩnh viễn đứng trên
mọi cái và quyết định mọi cái.
- Khi giải quyết vấn đề bản chất của cái chung thì Tô Mát Đa Canh theo chủ nghĩa duy thực ôn hoà (có sự dung hoà với chủ nghĩa duy danh).
Theo ông cái chung tồn tại trên ba mặt:
+ Tồn tại trớc sự vật trong trí tuệ của thợng đế.
+ Tồn tại khách quan trong các sự vật riêng lẻ.
+ Tồn tại trong trí tuệ con ngời bằng con đờng trừu tượng hoá khỏi các sự vật riêng lẻ.
- Dựa trên quan điểm duy tâm thần bí ông đã chứng minh sự tồn tại của thượng đế dựa trên năm yếu tố sau đây:
Thứ nhất thế giới không vận động vĩnh cửu mà cần phải có lực tác động ban đầu.
Thứ hai là mọi nguyên nhân không phải là vô tận mà cần phải có nguyên nhân đầu tiên.
Thứ ba mọi sự vật của thế giới là ngẫu nhiên vì vậy cần tồn tại cái tất nhiên tuyệt đối.
Thứ tư mọi sự bộc lộ các các giai đoạn hoàn thiện khác nhau cần phải có một thực thể hoàn toàn tuyệt đối.
Thứ năm tính hợp lý của thế giới tự nhiên không thể giải thích bằng các nguyên nhân tự nhiên mà cần phải có tồn tại một thực thể lý trí siêu tự nhiên để điều chỉnh thế giới.Vì vậy Tô Mát Đa Canh cho rằng thượng đế chính là động lực ban đầu, là nguyên nhân ban đầu, là cái tất nhiên tuyệt đối, là sự hoàn thiện tuyệt đối và nguyên nhân hợp lý của thế giới tự nhiên.Về lý luận nhận thức: ông chịu ảnh hưởng của học thuyết hình dạng của Arit xtốt. Theo Tô Mát Đa Canh mọi nhận thức đều diễn ra chủ thể tiếp thu khách thể nhưng không phải mọi sự nhận thức của khách thể đều đợc tiếp nhận mà chỉ tiếp nhận những hình ảnh của khách thể tức là hình dạng của nó mà thôi bởi bản thân khách thể khi gia nhập vào tinh thần của cái nhận thức (chủ thể) thì cái được nhận thức bị mất đi tính vật chất của mình và chỉ tồn tại với tư cách là hình dạng tức là hình ảnh của nhận thức. Ông chia hình dạng thành hình dạng cảm tính và hình dạng lý tính. Hình dạng lý tính cao hơn cảm tính, cho nên nhờ đó mà nhận thức được cái chung, cái giống với đối tượng, cái mà trong đó chứa đựng nhiều thực thể riêng biệt. Sự tiếp nhận của Tô Mát Đa Canh về học thuyết hình dạng của Arit xtốt chỉ là sự khôi phục về hình thức, cha tiếp nhận được bản chất sống động và tính chân lý trong học thuyết đó.(2)
- Về sự tiếp nhận xã hội Tô Mát Đa Canh ca ngợi chế độ bất bình đẳng và trật tự đẳng cấp trong xã hội. Ông cho rằng cuộc sống trần thế chỉ là tạm thời, là sự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai vĩnh viễn ở thế giới bên kia. Ông là người theo chủ nghĩa quân chủ cho nên ông cho rằng quốc vương không chỉ là người điều khiển mà còn là người sáng tạo ra thế giới. Nhưng quốc vương cũng là người của đức chúa Giê-su, thực hiện mọi yêu cầu của nhà thờ và trừng phạt một cách dã man những người tà đạo bởi vì nhà thờ là tối cao. Đối lập với quan điểm duy thực của Tô Mát Đa Canh là quan điểm duy
danh luận của Đơn xcốt, đại biểu xuất sắc của phái duy danh thời kỳ trung cổ.
Đơn xcốt sinh ra ở nớc Anh. Ông là một nhà duy danh luận rất nổi tiếng, ông sống ở thế kỷ XIII Khi giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa thần học và triết học ông cho rằng đối tượng của thần học là thượng đế còn đối tượng của triết học là tồn tại khách quan. Ông đề cao vai trò lòng tin tôn giáo hơn so với lý trí bởi vì lý trí chỉ nhận thức được tồn tại còn thượng đế là tối cao vô tận, phi vật chất, là lòng tin không thể nhận thức được. Xuất phát từ thế giới quan của những nhà duy danh luận, ông cho
rằng cái chung không chỉ là sản phẩm của tư duy mà còn là cơ sở trong bản thân sự vật. Cái chung tồn tại trong sự vật với tính cách là bản chất vừa tồn tại sau sự vật bởi tính cách là khái niệm trừu tượng hoá trong tư duy tách khỏi bản chất của sự vật.
Về lý luận nhận thức Đơn xcốt nhấn mạnh yếu tố tinh thần và cho rằng, nó là hình thức của thân thể con người, gắn bó thân thể con người mới sinh ra. Yếu tố tinh thần tuy có sức mạnh to lớn nhưng phụ thuộc vào đối tượng nhận thức. Xuất phát từ yếu tố tinh thần và đối tượng nhận thức mà tri thức con người hình thành. Ông cũng dề cập đến vai trò của lý trí và ý chí. ý chí cao hơn lý trí và thống trị mọi dạng hoạt động của con ngời. ở thượng đế ý chí trở thành tự do. Khi giải quyết vấn đề cái chung thì Đơn xcốt cho rằng cái chung không phải là sản phẩm của lý trí mà nó nằm ngay trong chính bản thân các sự vật. Nó vừa tồn tại trong các sự vật như là bản chất của chúng lại vừa tồn tại sau các sự vật. Với tư cách là những khái niệm đợc lý trí con ngời trừu tượng hoá, khái quát hoá khỏi các sự vật riêng lẻ.
Như vậy trong học thuyết của mình Đơn xcốt đứng về phía thần học và cho rằng triết học không xuất phát từ ý chí của thượng đế nên triết học không thể chứng minh đợc bản chất của thượng đế, sự sáng tạo ra thế giới. Mặc dù vẫy những cống hiến của Đơn xcốt đã đa ông lên vị trí là nhà duy danh luận nổi tiếng nhất thời trung cổ. Tuy vậy cuộc đấu tranh giữa Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Duy Tâm (dới danh nghĩa là phái duy danh và duy thực) vẫn diễn ra khá mạnh mẽ. Trong thời kỳ này mà đại diện của phái duy thực hay Chủ Nghĩa Duy Tâm là Ô quýt xtanh, Giăng xi cốt Ơ ri gien nơ, Téc tu Liêng... những đại diện của phái duy danh hay Chủ Nghĩa Duy Vật là Pie Abơ la, Rô giê Bê cơn, ốc cam...



